Tại sao ở Đông Á lại có nhiều hệ thống chữ viết khác nhau?

Kiến thức chung, Ngôn ngữ

28

Nov
2018

Khi học tiếng Na Uy, tiếng Séc hay tiếng Bồ Đào Nha, nhất là tiếng Pháp, bạn không cần phải học bảng chữ cái mới, vậy tại sao mỗi ngôn ngữ Đông Á lại phải học một bảng chữ cái khác nhau? Ở châu Âu, chữ Latinh của người La Mã đã trở thành tiêu chuẩn và chưa từng thực sự bị mất ưu thế trước chữ rune hay bảng chữ cái Hy Lạp, Kirin hay Glagolitic (chữ viết của người Slavic trước đây). Bạn vẫn phải học bảng chữ cái Hy Lạp khi học tiếng Hy Lạp, hoặc bảng chữ cái Kirin khi học tiếng Nga, tiếng Bungari và tiếng Serbia, nhưng chúng là những ngoại lệ duy nhất. Mặt khác, ở Đông Á ngày nay, chữ viết tượng hình dựa trên ký tự tiếng Trung Quốc được sử dụng ở Trung Quốc, trong khi người Hàn Quốc sử dụng bảng chữ cái han’gŭl bản địa, người Nhật Bản sử dụng kết hợp các ký tự tiếng Trung Quốc và 2 bảng ký hiệu âm tiết khác nhau, người Việt Nam sử dụng bảng chữ cái Latinh còn người Mông Cổ lại sử dụng bảng chữ cái Kirin.

Thậm chí thời đại trước đó còn có nhiều hệ thống chữ viết hơn. Người Việt Nam từng sử dụng các ký tự bản địa riêng được gọi là chữ nôm, người Mông Cổ và người Mãn Châu ở Đông Bắc Trung Quốc từng sử dụng hệ thống chữ cái viết dọc riêng, người Đảng Hạng ở phía Tây và Khiết Đan ở Đông Bắc Trung Quốc đã phát minh ra ký tự của riêng họ. Vậy vấn đề nan giải đầu tiên là có quá nhiều hệ thống chữ viết ở Đông Á: tại sao lại có nhiều hệ thống chữ viết đến vậy? Vấn đề nan giải thứ hai là tại sao không loại nào trong số những hệ thống chữ viết này thực sự thay thế được ký tự tiếng Trung Quốc, ít nhất là đến thời đại ngày nay. Ngày nay, ở Triều Tiên, bảng chữ cái han’gŭl được sử dụng một cách riêng biệt, không có bất kỳ ký tự tiếng Trung Quốc nào, và Hàn Quốc cũng đang dần dần chuyển dịch theo xu hướng này; còn ở Việt Nam, cả ký tự tiếng Trung Quốc và chữ nôm đều đã được thay thế bởi dạng thức mô phỏng của chữ cái Latinh. Nhưng trước thế kỷ XX, hệ thống chữ viết bản địa của mỗi quốc gia Đông Á đều sử dụng ký tự tiếng Trung Quốc. Đôi khi, trong tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt Nam, hệ thống chữ viết sử dụng cả ký tự tiếng Trung Quốc và ký tự bản địa trong cùng một câu; ở một số nơi khác, như Mãn Châu và Đảng Hạng, ký tự tiếng Trung Quốc và ký tự bản địa được sử dụng riêng rẽ nhưng vẫn đều được sử dụng. Hiện tượng này được giải thích như thế nào?

Chúng ta có thể bắt đầu với giả thiết rằng ký tự tiếng Trung Quốc là dạng thức chữ viết đầu tiên được biết đến ở Đông Á. Vì thế, ở tất cả các quốc gia bên ngoài Trung Quốc, chữ viết lần đầu tiên được tìm thấy dưới hình thức ký tự và tác phẩm văn học tiếng Trung Quốc. Vì thế, những đoạn văn bản đầu tiên được tạo ra ở Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc thường được viết bằng chữ cái tiếng Trung Quốc. Tên địa danh của địa phương và tên người thường được viết theo cách phát âm của ký tự tiếng Trung Quốc, và quy tắc này được áp dụng rộng rãi hơn khi chữ cái tiếng Trung Quốc được dùng làm chữ viết của ngôn ngữ bản địa. Vậy tại sao vẫn cần phải phát minh ra hệ thống chữ viết bản địa?

Mặc dù hoàn cảnh mà các hệ thống chữ cái tiếng Đông Á khác nhau được phát minh hay phát triển là khác nhau, những hệ thống này đều có chung một điểm. Chúng đều có gì đó liên quan đến ký tự tiếng Trung Quốc, hay ít nhất là hình dạng “hình vuông lý tưởng”. Điều này được thể hiện rất rõ ràng ở các ký tự được phát minh dưới thời Đảng Hạng hay tại Việt Nam; còn tại Nhật Bản, hai bảng chữ cái kana đại diện cho cách viết giản lược hay hình thức chữ thảo của ký tự tiếng Trung Quốc. Cách lý giải tốt nhất cho việc có quá nhiều hệ thống chữ viết là của Elena Berlanda, người cho rằng sự đa dạng này là do “sự phân chia”, khát vọng trở nên khác biệt. Đối với người Đảng Hạng, vốn có xung đột với Trung Quốc, việc phát minh ra chữ viết của riêng họ là hành động chính trị, khẳng định sự độc lập với cường quốc thống trị trong khu vực. Ở các khu vực khác, hệ thống chữ viết riêng cho tiếng bản địa trở nên mạnh mẽ hơn bằng cách cho chúng được hưởng một phần thanh thế khi có chữ viết mà đến thời điểm đó chỉ tiếng Trung Quốc mới có. Vì thế, trên thực tế, sự phong phú của hệ thống chữ cái ở Đông Á phản ánh những gì mà Hốt Tất Liệt đã nói vào thế kỷ XIII khi ông khuyến khích việc tạo ra một hệ thống chữ cái cho người Mông Cổ: “Mọi quốc gia đều có chữ viết của riêng mình.”

Điều này chắc chắn đúng với Đông Á ngày nay, nhưng trước thế kỷ XX, mặc dù mỗi quốc gia đều có chữ viết riêng cho tiếng bản địa, nhưng trong thời kỳ đó, chữ viết tiếng Trung Quốc vẫn giữ được thanh thế của mình và đối với phần lớn các văn bản mang tính trí tuệ về y học, triết học và Phật giáo, tiếng Trung Quốc vẫn tiếp tục được sử dụng. Tiếng Trung Quốc có được lợi thế của một thứ ngôn ngữ văn chương chung, nhưng khi tiếng bản địa được sử dụng phổ biến vào thế kỷ XX, Đông Á đã không còn ngôn ngữ chung này nữa. Đây là cái giá phải trả khi các ngôn ngữ bản địa lên ngôi.

Thùy Dung