Skip to content

Một số điểm khác biệt giữa bài thi IELTS và VSTEP

Một số điểm khác biệt giữa bài thi IELTS và VSTEP
IELTS và VSTEP cùng là các tiêu chuẩn xem xét đánh giá trình độ tiếng Anh đáng tin cậy. Tuy nhiên, giữa hai kỳ thi có nhiều điểm tương đồng trong cấu trúc và định dạng bài thi có thể gây ra nhiều sự nhầm lẫn khi không phân biệt rõ ràng.

Được tổ chức bài bản, chuyên nghiệp trong nhiều năm nay, IELTS là một thước đo trình độ đáng tin cậy đối với nhiều tổ chức, đơn vị. VSTEP là một kỳ thi khá mới, được đưa vào áp dụng cho riêng Việt Nam từ năm 2015 do chính phủ xây dựng phát triển theo Đề án Ngoại ngữ 2020. Vậy hai kỳ thi này có điểm nào giống và khác nhau?

IELTS là gì?

IELTS viết tắt cho International English Language Testing System, tạm dịch là Hệ thống Kiểm tra Anh ngữ Quốc tế, được phát triển bởi các tổ chức ESOL của Đại học Cambridge (University of Cambridge ESOL), Hội đồng Anh (British Council) và tổ chức giáo dục IDP của Úc.

Thí sinh IETLS được chia theo mục đích học tập, hoặc đào tạo nghề, định cư tại nước ngoài và làm bài thi tương ứng phân biệt là bài thi IELTS Academic hoặc IELTS General Training.

Thang điểm IELTS được đánh giá trên thang điểm 9, tính trung bình cộng của các phần thi nghe – nói – đọc – viết. Điểm lẻ sẽ được làm tròn lên sao cho bài thi chỉ có điểm chẵn và điểm rưỡi.

VSTEP là gì?

VSTEP, tên gọi đầy đủ là Vietnamese Standardized Test of English Proficiency – Khung Năng lực Ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam là một kỳ thi được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng Khung tham chiếu Châu Âu (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam.

Các đối tượng tham dự kỳ thi VSTEP phần lớn là giáo viên tiếng Anh các cấp; học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng; nghiên cứu sinh và học viên cần thi thạc sĩ, tiến sĩ.

Cách tính điểm của bài thi VSTEP cũng dựa trên điểm trung bình các phần thi, nhưng lại tính trên số điểm cao nhất là 10, từ đó quy đổi ra mức bậc thí sinh đạt được. Hình thức đánh giá của VSTEP khá giống CERF, song điểm khác là thêm một bước phân định cấp tùy vào bậc.

CERF

VSTEP

A1

Sơ cấp

Bậc 1

A2

Bậc 2

B1

Trung cấp

Bậc 3

B2

Bậc 4

C1

Cao cấp

Bậc 5

C2

Bậc 6

Định dạng đề thi

Cấu trúc định dạng bài thi IELTS

Một bài thi IELTS kiểm tra 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết, được tiến hành trong thời gian là 3 tiếng.

Ba kỹ năng đầu tiên áp dụng như nhau, trên các phương diện như thời gian làm bài, cấu trúc đề… đối với mọi thí sinh. Đề thi chỉ khác biệt ở kỹ năng Viết, chiếm thời gian khi chia ra thành hai dạng viết thư và viết bài báo cáo, tương ứng với định dạng IELTS General và IELTS Academic.

Cấu trúc bài thi IELTS quốc tế
Cấu trúc bài thi IELTS quốc tế

Dịnh dạng đề thi đánh giá năng lực tiếng Anh VSTEP từ bậc 3 – 5

Cấu trúc bài thi đánh giá năng lực tiếng Anh theo VSTEP
Cấu trúc bài thi VSTEP
VSTEP
NGHE
NÓI
ĐỌC
VIẾT
THỜI GIAN
40 phút
60 phút
60 phút
12 phút
SỐ CÂU HỎI
3 phần: 35 câu hỏi đa lựa chọn
4 bài đọc:
4- câu hỏi đa lựa chọn
2 bài viết
3 phần:
Tương tác xã hội
Thảo luận giải pháp
Phát triển chủ đề
NHIỆM VỤ
Nghe các đoạn hội thoại, hướng dẫn, thông báo, các doạn họi thoại và các bài nói chuyện, bài giảng, sau đó trả lời câu hỏi đa lựa chọn (MCQ).
Thí sinh đọc 4 văn bản về các vấn đề khác nhau, với tổng số từ dao động từ 1900-2050 từ. Thí sinh trả lời các câu hỏi đa lựa chọn sau mỗi bài đọc.
Bài 1: Viết một bức thư có độ dài khoảng 120 từ.
Bài 2: Thí sinh viết một bài luận khoảng 250 từ về một chủ đề cho sẵn.
Phần 1: Tương tác xã hội
Phần 2: Thảo luận giải pháp
Phần 3: Phát triển chủ đề
MỤC ĐÍCH
Kiểm tra các tiểu kĩ năng Nghe khác nhau, có độ khó từ bậc 3 đến bậc 5: nghe thông tin chi tiết, nghe hiểu thông tin chính, nghe hiểu ý kiến, mục đích của người nói và suy ra từ thông tin trong bài.
Kiểm tra các tiểu kĩ năng Đọc khác nhau, có độ khó từ bậc 3 đến bậc 5: đọc hiểu thông tin chi tiết, đọc hiểu ý chính, đọc hiểu ý kiến, thái độ của tác giả, suy ra từ thông tin trong bài và đoán nghĩa của từ trong văn cảnh.
Kiểm tra kĩ năng Viết tương tác và Viết sản sinh.
Kiểm tra các kĩ năng Nói khác nhau: tương tác, thảo luận và trình bày một vấn đề.

So với IETLS, thời lượng làm bài Đọc và Viết là tương đương, cả hai đều kéo dài 60 phút. Tuy nhiên kỹ năng nghe được đặt dài hơn thành 40 phút và thời gian kiểm tra kỹ năng Nói rút ngắn thành 12 phút.

Ứng dụng của chứng chỉ IELTS và VSTEP trong đời sống

Phạm vi áp dụng của chứng chỉ IELTS cũng rộng và đa dạng như đối tượng dự thi. Học sinh trung học phổ thông có trong tay nhiều cơ hội cạnh tranh cả trong và ngoài nước khi đạt được chứng chỉ IELTS. Ngoài cơ hội du học tại nước ngoài, và từ năm 2018, rất nhiều trường Đại học ở Việt Nam đã bổ sung phương thức xét tuyển bằng chứng chỉ IELTS từ 6.5 trở lên, kết hợp với kết quả học tập trong quy chế tuyển sinh. Năm 2019, những học sinh có điểm từ 4.0 trở lên có thể được miễn thi môn ngoại ngữ trong kỳ thi Trung học phổ thông.

Đối với sinh viên và người đi làm, trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng đề cao tiếng Anh do xu thế hội nhập với thế giới, tiếng Anh dần trở thành yêu cầu cố định khi các nhà tuyển dụng xem xét ứng viên. Nhân viên đang làm việc cũng có thể chứng tỏ năng lực khi bày tỏ ý kiến của mình và nước ngoài, tạo điều kiện thăng tiến và nâng cao thu nhập.

So sánh với đó thì VSTEP lại được ứng dụng như một tiêu chuẩn xét riêng trong hệ thống đánh giá của Việt Nam. Kỳ thi được áp dụng làm tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra của sinh viên phần lớn các trường đại học nước ta. Thí sinh cần đạt được chuẩn B1 nếu muốn được công nhận đạt yêu cầu tốt nghiệp, hoặc được xét đủ điều kiện bảo vệ luận án hoặc luận văn thạc sĩ. Phương án miễn thi tiếng Anh đầu vào cũng được áp dụng cho kỳ thi này với đối tượng là học sinh cấp 3 cần thi vào đại học, cao đẳng và sinh viên cần thi cao học.

Kết luận

Qua so sánh, ta thấy mỗi kỳ thi đều có đặc điểm riêng, cả về thang điểm, cấu trúc và phạm vi áp dụng, vậy nên điều quan trọng không phải là mức độ khó của các bài thi mà là mục đích thi của từng người.

Một lưu ý cuối cùng đối với VSTEP là kỳ thi này khá chú trọng đến cấp bậc thí sinh muốn thi (như B1, B2, C1) do cần phân loại thí sinh nên trước khi quyết định thi, thí sinh nên xác định rõ trước trình độ cấp bậc muốn đăng ký.